ĐẠI CƯƠNG U lympho (ULP) là một nhóm không đồng nhất những tổn thương ác tính xuất phát từ tổ chức lympho, các khối u này chiếm 3% các ung thư trên thế giới. Hầu hết ULP có nguồn gốc từ tế bào B, một phần nhỏ từ tế bào …
Đọc tiếp
ĐẠI CƯƠNG U lympho (ULP) là một nhóm không đồng nhất những tổn thương ác tính xuất phát từ tổ chức lympho, các khối u này chiếm 3% các ung thư trên thế giới. Hầu hết ULP có nguồn gốc từ tế bào B, một phần nhỏ từ tế bào …
Đọc tiếpĐẶT VẤN ĐỀ Khối tân sản thần kinh nội tiết (Neuroendocrine neoplasms – NENs) là những tổ chức tân sản có nguồn gốc từ hệ thống tế bào thần kinh nội tiết, có thể lành tính hoặc ác tính [1]. Dựa về độ ác tính, NENs được chia làm 2 nhóm: …
Đọc tiếpCó khoảng 30-40% bệnh nhân ung thư sẽ xuất hiện di căn não tại một thời điểm nào đó trong quá trình diễn biến của bệnh. Di căn não ở một bệnh nhân ung thư là một yếu tố tiên lượng xấu. Không có các điều trị đặc hiệu, trung vị thời gian sống thêm chỉ đạt 1-2 tháng..
Đọc tiếpUng thư thực quản là bệnh có đặc tính tiến triển tự nhiên nhanh với tỷ lệ di căn hạch vùng cao hơn so với các khối u ác tính nguyên phát khác từ đường tiêu hóa. Di căn hạch cũng là một trong những yếu tố có giá trị tiên lượng mạnh trong ung thư thực quản. Xác định đúng tình trạng hạch vùng là yếu tố quan trọng giúp nhà lâm sàng quyết định được chiến lược điều trị phù hợp.
Đọc tiếpCHẨN ĐOÁN Mặc dù chẩn đoán xác định bệnh này dựa vào tế bào học. Chẩn đoán bệnh có thể dựa vào các phương pháp chẩn đoán không xâm lấn như( Siêu âm ổ bụng, cắt lớp vi tính, chụp MRI đường mật) thường gặp ở giai đoạn ung thư …
Đọc tiếpGen BRAF mã hóa enzym kinase xúc tác phản ứng phosphoryl hóa nhóm OH của serine hoặc threonine, tham gia vào con đường dẫn truyền tín hiệu kích thích phân bào (Mitogen-Activated Protein Kinases pathway – MAPKs), một cơ chế quan trọng trong quá trình phát sinh của nhiều loại ung thư.
Đọc tiếpDị cảm (Cảm giác nóng ran, đau nhức, dấu hiệu Lhermitte), tê bì, yếu cơ, rối loạn tự chủ cơ tròn, có thể tiến triển đến hội chứng Brown-Séquard và cuối cùng là mất toàn bộ cảm giác và vận động.
Đọc tiếpTỔNG QUAN U nhú nhầy nội ống đường mật (biliary tract intraductal papillary mucinous neoplasm: B-IPMN) được nhận thấy ngày càng nhiều như một loại u đặc trưng của đường mật, trùng hợp với sự chấp nhận rộng rãi thuật ngữ u nhầy nội ống tụy (pancreatic intraductal papillary mucinous …
Đọc tiếpĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư biểu mô dạng gan (Hepatoid Carcinoma – HAC) là một loại ung thư biểu mô hiếm gặp có mô học giống với ung thư biểu mô tế bào gan (hepatocellular carcinoma – HCC) nhưng là khối u nguyên phát ngoài gan, được thông báo đầu …
Đọc tiếpĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư tụy là một trong những ung thư đường tiêu hóa có tính chất ác tính nhất. Theo GLOBOCAN 2018, mỗi năm trên thế giới có khoảng gần 460.000 ca mắc mới và hơn 430.000 ca tử vong [1]. Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong …
Đọc tiếp