“Chung sống” với ống thông dạ dày – Những điều bạn cần biết

Ống thông dạ dày hay ống mở thông dạ dày, một vật dụng “quen thuộc” với người bệnh ung thư thực quản.

Một ống thông (xông) được đặt xuyên qua thành bụng đến lòng dạ dày người bệnh
Qua ống thông, người bệnh có thể được nuôi dưỡng thay thế hay hỗ trợ bổ sung việc ăn uống qua đường miệng trong một số tình huống đặc biệt.

Với người bệnh ung thư, bác sĩ có thể cân nhắc sử dụng ống mở thông dạ dày trong các trường hợp:

– Khối u xuất phát từ đường ống tiêu hỏa, phát triển gây bít tắc đường ăn: U thực quản, u họng miệng, hạ họng hay u đoạn nối thực quản với dạ dày,

– Khối u xuất phát từ các cơ quan khác lân cận ống tiêu hóa ở vùng cổ hay trong lồng ngực, phát triển chèn ép gây hẹp lòng ống tiêu hóa: U tuyến giáp, u phổi, u trung thất…

Trong các tình huống kể trên, việc ăn uống qua đường miệng trở nên khó khăn, không thể đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày cho người bệnh. Người bệnh có biểu hiện nuốt nghẹn, nuốt khó, mệt mỏi, gầy sút cân nhanh chóng, hoa mắt, chóng mặt (Do thiếu máu). Tình trạng sức khỏe người bệnh suy sụp khiến liệu trình điều trị không thể hoàn thành hay gián đoạn dẫn đến kết quả điều trị không đạt được như mong đợi.

Một ống thông được đặt vào lòng dạ dày thông qua thành bụng, nhờ một cuộc mổ hoặc thủ thuật nội soi hay can thiệp điện quang, các bữa ăn chế biến phù hợp (cháo, súp, sữa, ngũ cốc…) đưa trực tiếp vào dạ dày qua ống thông, giúp có một phương án thay thế hoặc bổ sung cho việc ăn uống qua miệng.

Bên cạnh những lợi ích mang lại, việc đặt ống mở thông dạ dày cũng đặt ra những vấn đề trở ngại ảnh hưởng đến hoạt động sinh hoạt, chất lượng cuộc sống của người bệnh như đau, chảy dịch hay chảy máu, loét hay nhiễm trùng lỗ mở thông trên thành bụng…

Những điểm chú ý sau đây người bệnh và gia đình cần nắm vững để việc sử dụng ống mở thông dạ dày an toàn và hiệu quả, để thời gian “chung sống” cùng ống mở thông dạ dày được thoải mái và nhẹ nhàng hơn:

1. Những điểm cần chú ý trao đổi kỹ với bác sĩ điều trị của bạn trước khi tiến hành đặt ống mở thông dạ dày:

Hiểu rõ các thông tin cần thiết giúp bạn và người thân sẵn sàng cho cuộc sống với ống thông dạ dày sắp tới

– Mục đích của việc đặt ống mở thông dạ dày: Ăn qua ống thông sẽ thay thế hoàn toàn hay chỉ bổ sung thêm cho ăn uống qua miệng, ống thông sẽ theo bạn vĩnh viễn hay tạm thời trong giai đoạn điều trị? Cần hỏi rõ bạn hay người thân nên hay không nên duy trì ăn, uống qua miệng sau khi có ống mở thông dạ dày và khi cần duy trí, chế độ ăn cần thay đổi như thế nào cho phù hợp?

Việc duy trì ăn uống qua đường miệng kể cả khi có ống mở thông dạ dày có ý nghĩa rất quan trọng, duy trì hoạt động nuốt, chức năng co bóp và tống đẩy thức ăn của thực quản, giúp bạn phục hồi chức năng nhai, ăn uống bình thường sau khi kết thúc điều trị.

– Phương án đặt mở thông dạ dày được lựa chọn cho bạn và những chuẩn bị cần thiết trước đó: Bằng phẫu thuật? Can thiệp nội soi hay can thiệp điện quang?. Các loại ống thông dạ dày và tư vấn của bác sĩ để lựa chọn phù hợp cho bạn? Hiện có nhiều loại ống thông dạ dày với kích thước, chất liệu, thiết kế, ưu nhược điểm và mức chi phí khác nhau.

– Làm thế nào để chăm sóc lỗ mở thông dạ dày trên thành bụng?

– Lựa chọn thực phẩm và cách chế biến nào thích hợp cho bữa ăn qua ống mở thông dạ dày?

– Cho ăn qua ống mở thông dạ dày đúng cách? Số lượng, cách phân chia các bữa ăn trong ngày?

– Cách xử trí một số tình huống thường gặp với ống mở thông dạ dày: Chảy máu, dịch từ lỗ mở thông trên thành bụng, tắc ống thông, trào ngược dịch qua ống thông, tụt ống thông…

2. Vệ sinh và chăm sóc mở thông dạ dày tại nhà:

– Khi vệ sinh và chăm sóc vị trí lỗ mở thông dạ dày:

  • Người thực hiện rửa tay bằng xà phòng và nước sạch
  • Sử dụng nước ấm và xà phòng trung tính 2 đến 3 lần mỗi ngày (Có thể lựa chọn sản phẩm dành cho trẻ em để hạn chế kích ứng da) để vệ sinh nhẹ nhàng vùng da quanh lỗ mở thông, hạn chế cọ xát hay động tác mạnh
  • Sau khi vệ sinh, thấm khô vùng da quanh lỗ mở thông với khăn bông mềm
  • Báo bác sĩ điều trị hay điều dưỡng chăm sóc biết nếu bạn cảm thấy đau hoặc phát hiện da quanh lỗ mở thông tấy đỏ
  • Chú ý vệ sinh lòng ống thông dạ dày với nước ấm sau mỗi lần cho ăn và thời hạn thay thế theo hướng dẫn ban đầu của nhân viên y tế

– Khi tắm:

  • Bác sĩ điều trị hoặc điều dưỡng chăm sóc sẽ cho bạn biết khi nào có thể tắm sau khi đặt ống mở thông
  • Kiểm tra ống thông được kẹp hay đậy nắp kín trước khi tắm
  • Nước tắm không quá nóng, tránh gây kích ứng vùng da quanh lỗ mở thông
  • Sử dụng xà phòng trung tính và khăn tắm bông mềm

Ống mở thông dạ dày có thể là trở ngại cho hoạt động sinh hoạt của người bệnh, do đau, hiện tượng trào ngược dịch qua lỗ mở thông hay ống thông dạ dày, đặc biệt khi vận động mạnh, cúi gập bụng, hay vận động ngay sau bữa ăn.

Trước khi vận động, người bệnh cần đảm bảo vị trí lỗ mở thông đã được băng cần thận, ống thông được đậy nắp kín và cố định an toàn với băng dính hay đai chun,

Băng vị trí lỗ mở thông dạ dày trên thành bụng
Cố định băng và ống mở thông dạ dày. Có thể sử dụng băng dính giấy (Mua tại các hiệu thuốc) thay cho băng dính thông thường khi bị dị ứng (Da chỗ dính băng bị mẩn đỏ)

3. Cho ăn qua ống mở thông dạ dày – Một số điểm lưu ý:

– Có hai cách cho ăn: Chia thành các bữa ăn trong ngày, mỗi bữa ăn được bơm bằng xylanh qua ống thông (Đây là cách thường áp dụng trên thực tế) hoặc cho ăn bằng truyền nhỏ giọt liên tục túi dinh dưỡng qua ống thông.

– Số lượng bữa ăn và cách thức chế biến, lựa chọn thực phẩm phù hợp cho từng thể trạng người bệnh cụ thể cần được tham khảo ý kiến của bác sĩ điều trị và chuyên gia dinh dưỡng. Nhìn chung, có thể lựa chọn thực phẩm đa dạng, chỉ hạn chể loại nhiều chất xơ và khó tiêu (rau xanh, thịt, cá, tôm, cua, gia cầm…), chế biến mềm (Bằng cách ninh nhừ, mềm, xay nhuyễn), loãng, không đòi hỏi gia vị. Theo dõi hoạt động tiêu hóa của người bệnh và điều chỉnh phù hợp. Báo bác sĩ điều trị hay điều dưỡng chăm sóc nếu có bất thường sau khi cho ăn: Đau bụng, sôi bụng, quặn bụng, tiêu chảy hay táo bón, đầy hơi, chướng bụng…

– Khi cho ăn: Người bệnh ở tư thế nửa nằm nửa ngồi, nửa trên thân mình cao hơn, thả lỏng thoải mái, không co cứng bụng (Sẽ dễ gây trào ngược dịch). Không bơm mạnh xylanh, bơm chậm rãi, tốt nhất để dung dịch chảy theo trọng lực.

Người bệnh ở tư thế nửa nằm nửa ngồi. Dịch cho ăn nên được để chảy tự do theo trọng lực qua xy lanh vào ống thông.

– Sau bữa ăn: Chú ý vệ sinh ống thông và xylanh bằng nước ấm. Người bệnh cần ngồi ít nhất 30-60 phút, không nằm ngay.

4. Cách xử trí một số tình huống thường gặp:

– Tắc ống thông: Khi chế biến dung dịch nuôi ăn quá đặc, chưa xay nhuyễn, hoặc vệ sinh ống thông kém, thức ăn có thể lắng đọng gây bít tắc lòng ống. Có thể thực hiện bơm rửa ống thông nếu đã được bác sĩ và nhân viên y tế hướng dẫn, nếu ống thông vẫn tắc hoặc chưa được hướng dẫn trước, báo bác sĩ và điều dưỡng chăm sóc hỗ trợ.

– Chảy dịch qua lỗ mở thông dạ dày: Thường thời gian đầu sau khi đặt ống mở thông dạ dày, hiện tượng rò rỉ dịch quanh lỗ mở thông được xem là bình thường. Cần chú ý vệ sinh vùng da quanh lỗ mở đúng cách để ngăn ngừa tổn thương da cũng như nhiễm trùng. Báo bác sĩ hoặc điều dưỡng chăm sóc nếu tình trạng chảy dịch kéo dài, có máu hoặc vùng da xung quanh lỗ mở tấy đỏ, đau.

– Tiêu chảy: Một hiện tượng thường gặp với những người bệnh ăn qua ống thông dạ dày. Quan sát tình trạng phân (Có sống phân? Nhầy mũi?) và lưu ý các thực phẩm đã lựa chọn và cách chế biến bữa ăn để thông báo lại cho bác sĩ điều trị.

– Tụt ống mở thông dạ dày: Không cố gắng đặt ống trở lại, băng vị trí lỗ mở thông, đến ngay cơ sở y tế gần nhất và báo bác sĩ điều trị hoặc điều dưỡng chăm sóc.

Trên đây là một số chú ý quan trọng người bệnh và gia đình cần biết và chuẩn bị trước khi bước vào thời gian “chung sống” với ống mở thông dạ dày. Quý độc giả, nếu còn có những thắc mắc băn khoăn, vui lòng gửi đến Ung Thư Học tại mục bình luận hoặc qua tin nhắn vào Fanpage (FaceBook) Ung thư Học.

Về Trần Trung Bách

Bác sĩ nội trú. Bộ môn Ung thư - Đại học Y Hà Nội - Khoa xạ trị tổng hợp, Bệnh viện K Tân Triều

Xem thêm

Tổng quan Liệu pháp miễn dịch | Phần 2

Tổng quan về liệu pháp miễn dịch dành cho các bác sĩ lâm sàng.