Oops! It appears that you have disabled your Javascript. In order for you to see this page as it is meant to appear, we ask that you please re-enable your Javascript!
ĐANG TẢI

Gõ từ khoá để tìm kiếm

PRODIGE 24/CCTG PA.6 | mFOLFIRINOX – Lựa chọn điều trị chuẩn mới trong điều trị bổ trợ sau mổ UNG THƯ TUỴ?

Chia sẻ

Tại hội nghị thường niên của ASCO năm 2018 vừa qua, kết quả ấn tượng của PRODIGE 24/CCTG PA.6, một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, đa trung tâm, pha III  được thực hiện tại Pháp, mang đến những tín hiệu tích cực trong điều trị ung thư biểu mô tuyến của tuỵ.
FOLFIRINOX hiệu quả hơn gemcitabine với ung thư biểu mô tuyến tuỵ giai đoạn di căn, tuy nhiên, đi cùng với những lợi ích là các tác dụng phụ xuất hiện với một tỷ lệ cao hơn. Trong thử nghiệm trên đối tượng bệnh nhân sau phẫu thuật triệt căn, để giảm thiểu nguy cơ độc tính, các tác giả sử dụng phác đồ FOLFIRINOX biến đổi (mFOLFIRINOX), cụ thể, giảm liều Irinotecan và bỏ liều bolus của 5FU ở mỗi chu kỳ:

Nghiên cứu PRODIGE 24 được Conroy và cộng sự thực hiện nhằm đánh giá lợi ích của phác đồ mFOLFIRINOX trong vai trò điều trị bổ trợ cho 493 bệnh nhân ung thư tuỵ được tuyển lựa từ 77 trung tâm ung thư tại Pháp và Canada.
Tất cả bệnh nhân tham gia nghiên cứu có chẩn đoán ung thư biểu mô tuyến của tuỵ, giai đoạn chưa di căn xa và được điều trị bước đầu bởi phẫu thuật triệt căn (R0/R1). Sau phẫu thuật, bệnh nhân được phân nhóm ngẫu nhiên nhận liệu trình điều trị hoá chất bổ trợ với phác đồ mFOLFIRINOX hoặc gemcitabine trong 6 tháng.
Sau thời gian theo dõi trung vị 33,6 tháng, mFOLFIRINOX cho thấy lợi ích kéo dài thời gian sống thêm không bệnh (DFS), sống thêm toàn bộ (OS) cũng như thời gian sống thêm không có tiến triển di căn (MFS) vượt trội hơn hẳn so với gemcitabine đơn thuần:

Lợi ích của mFOLFIRINOX được ghi nhận ở mọi phân nhóm bệnh nhân tham gia nghiên cứu.
Tác dụng phụ độ 3-4 thường gặp hơn ở ở nhóm được điều trị mFOLFIRINOX: 76% so với 53%, trong đó, tỷ lệ độ 4 xấp xỉ 12% ở mỗi phác đồ. Loại tác dụng phụ được ghi nhận khác nhau giữa 2 phác đồ. Nhóm bệnh nhân được điều trị gemcitabine đơn thuần thường gặp các triệu chứng “gỉả cúm” và hạ bạch cầu. Trong khi đó, những tác dụng phụ ở nhóm mFOLFIRINOX nổi trội hơn ở đường tiêu hoá: tiêu chảy, nôn-buồn nôn, mệt mỏi. Đặc biệt, kết quả nghiên cứu không cho thấy khác biệt về nguy cơ xuất hiện sốt hạ bạch cầu giữa 2 phác đồ.
Mặc dù cho đến nay chưa có nghiên cứu đối đầu trực tiếp giữa mFOLFIRINOX và phác đồ kết hợp Gemcitabine – Capecitabine (cũng đã vượt qua gemcitabine đơn thuần trong thử nghiệm ESPAC-4 với trung vị OS 28 so với 25,5 tháng), kết quả ấn tượng của PRODIGE 24 đang đưa mFOLFIRINOX trở thành lựa chọn điều trị chuẩn trong chỉ định bổ trợ sau phẫu thuật ung thư tuyến tuỵ. Tuy nhiên, với những kết quả về độc tính đã ghi nhận, các chuyên gia vẫn nhấn mạnh việc cần thận trọng lựa chọn những bệnh nhân có toàn trạng tốt và cân nhắc đến tình trạng bệnh lý kèm theo (đặc biệt tình trạng tim mạch) trước khi chỉ định phác đồ này.

Các tác giả nhận định hướng phát triển tiếp theo của nghiên cứu sẽ là xác định thời điểm tối ưu cho điều trị hoá chất đối với nhóm bệnh nhân này khi mFOLFIRINOX cho thấy những tiềm năng hứa hẹn cho vai trò điều trị tân bổ trợ. Bên cạnh đó, chiến lược “sandwich” với mFOLFIRINOX trước và sau mổ cũng là 1 lựa chọn của các thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành.


BSNT. Trần Trung Bách

Tags:

Bạn có thể quan tâm

Để lại bình luận

Your email address will not be published. Required fields are marked *