Gõ từ khoá để tìm kiếm

Chia sẻ

 

Ung thư không rõ nguyên phát (Carcinoma of unknown primary-CUP) là một bệnh hiếm.

Các tế bào ác tính được tìm thấy nhưng không biết được vị trí ung thư bắt đầu.

Ung thư có thể hình thành trong bất kỳ mô nào của cơ thể. Ung thư nguyên phát (ung thư hình thành đầu tiên) có thể lan tràn nhiều nơi. Quá trình này gọi là di căn. Các tế bào ung thư thường trông giống tế bào của loại mô mà ung thư bắt đầu. Ví dụ, các tế bào ung thư vú có thể lan đến phổi. Bởi vì ung thư bắt đầu ở vú nên các tế bào ung thư trong phổi cũng giống các tế bào ung thư vú.

Đôi khi các bác sĩ tìm thấy vị trí ung thư lan đến nhưng không thể tìm thấy vị trí ung thư bắt đầu phát triển. Loại ung thư này được gọi là ung thư không rõ nguồn gốc (CUP).

Các xét nghiệm được tiến hành để tìm vị trí ổ nguyên phát và vị trí di căn. Khi phát hiện được ổ ung thư nguyên phát, ung thư không còn là CUP nữa và được điều trị theo loại ung thư nguyên phát.

Đôi khi không bao giờ tìm thấy được ung thư nguyên phát.

Ung thư nguyên phát (ung thư hình thành đầu tiên) có thể không được tìm thấy do các nguyên nhân:

  • Ung thư nguyên phát quá nhỏ và phát triển chậm.
  • Hệ thống miễn dịch của cơ thể đã tiêu diệt ung thư nguyên phát.
  • Ung thư nguyên phát đã bị loại bỏ trong một phẫu thuật do nguyên nhân khác và bác sĩ không phát hiện được ung thư. Ví dụ, một ung thư tử cung có thể bị loại bỏ trong phẫu thuật cắt tử cung hoàn toàn do nhiễm khuẩn nặng.

 

Triệu chứng của CUP rất khác, phụ thuộc vào vị trí mà ung thư lan tràn đến.

Đôi khi CUP không gây nên bất kỳ một dấu hiệu hay triệu chứng nào. Đi kiểm tra khi bạn có bất kỳ dấu hiệu nào dưới đây:

  • Khối hay mảng cứng ở bất kỳ bộ phận nào trên cơ thể.
  • Đau ở một vị trí và không biến mất.
  • Ho hoặc khàn tiếng kéo dài không mất đi.
  • Thay đổi thói quen đại tiểu tiện. Như táo bón, ỉa chảy, hoặc tần số đi tiểu.
  • Chảy máu hoặc chảy mủ bất thường.
  • Sốt không rõ nguyên nhân kéo dài không mất đi.
  • Ra mồ hôi đêm.
  • Sụt cân, chán ăn không rõ nguyên nhân.

 

Các xét nghiệm được sử dụng để phát hiện ung thư.

Các xét nghiệm và thủ thuật sau có thể được sử dụng:

  • Hỏi bệnh và khám lâm sàng: Khám tổng quát, tìm các dấu hiệu bất thường như các khối, mảng cứng. Khai thác tình trạng sức khỏe, bệnh tật và các điều trị trong qúa khứ.
  • Tổng phân tích nước tiểu: Xét nghiệm kiểm tra màu sắc và thành phần các chất có trong nước tiểu, như đường, protein, máu, hay vi khuẩn.
  • Hóa sinh máu: Xét nghiệm kiểm tra nồng độ các chất được tiết vào máu từ các cơ quan và mô trong cơ thể. Một nồng độ bất thường có thể là dấu hiệu của bệnh.
  • Công thức máu: Xét nghiệm kiểm tra:
    • Số lượng hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu.
    • Nồng độ hemoglobin (protein vận chuyển oxy) trong các tế bào hồng cầu.
    • Thể tích khối hồng cầu.
  • Xét nghiệm tìm máu trong phân (FOBT): Tìm hồng cầu trong phân nhờ một kính hiển vi. Bởi vì một vài loại ung thư chảy máu, vì vậy tìm thấy máu trong phân có thể là dấu hiệu của ung thư đại tràng hay trực tràng.

 

Nếu các xét nghiệm nghi ngờ ung thư, sinh thiết sẽ được tiến hành.

Các bác sĩ giải phẫu bệnh sẽ quan sát mẫu mô nghi ngờ dưới kính hiển vi để tìm kiếm các tế bào ung thư và xác định loại ung thư. Loại sinh thiết được chỉ định phụ thuộc vào vị trí cần làm sinh thiết.

Các loại sinh thiết gồm:

  • Sinh thiết cắt rộng: Cắt toàn bộ khối ở mô.
  • Sinh thiết mảnh: Cắt một phần của khối hoặc một mẫu của mô.
  • Sinh thiết lõi: Lấy một phần của mô bằng kim lớn.
  • Sinh thiết kim nhỏ: Lấy một phần mô hoặc dịch bằng kim nhỏ.

 

Nếu ung thư được phát hiện, các xét nghiệm sau đây có thể được chỉ định để nghiên cứu loại ung thư:

  • Nghiên cứu mô học: Mẫu tế bào hoặc mô được nhuộm và quan sát dưới kính hiển vi để tìm những thay đổi của tế bào. Mỗi thay đổi cụ thể có liên quan với một loại ung thư nhất định.
  • Hóa mô miễn dịch: Sử dụng kháng thể để tìm kiếm những kháng nguyên đặc hiệu trong mẫu mô. Các kháng thể thường được gắn phóng xạ hoặc chất màu để hiện rõ dưới kính hiển vi. Xét nghiệm này được sử dụng để xác định các điểm khác nhau giữa các loại ung thư khác nhau.
  • RT-PCR: Sử dụng hóa chất để tìm kiếm những thay đổi cụ thể trong gene của các tế bào.
  • Phân tích nhiễm sắc thể: Tìm những thay đổi nhất định trong NST của tế bào trong mẫu mô. Mỗi thay đổi này liên quan với một loại ung thư nhất định.
  • Kính hiển vi điện tử: Dùng KHV điện tử độ phóng đại bình thường hoặc lớn để tìm các thay đổi cụ thể của tế bào.

 

Khi loại tế bào ung thư hoặc mô được sinh thiết khác loại ung thư được dự đoán, chẩn đoán CUP có thể được xem xét.

Các tế bào trong cơ thể có hình dáng nhất định phụ thuộc vào tùy từng loại mô. Ví dụ, một mẫu mô ung thư lấy từ vú được dự đoán phát triển từ các tế bào ở vú. Nếu các tế bào trong mẫu mô đó là một loại khác, có thể đó là những tế bào di căn từ các cơ quan khác đến vú. Để nên kế hoạch điều trị, trước hết các bác sĩ cần phải tìm được ổ nguyên phát.

Các xét nghiệm và thủ thuật dùng để tìm ổ ung thư nguyên phát.

Trong một vài trường hợp, nơi tìm thấy ung thư có thể định hướng giúp bác sĩ sử dụng các xét nghiệm thích hợp.

  • Nếu ung thư được tìm thấy ở trên cơ hoành, ổ nguyên phát thường ở phần trên cơ thể. VD: phổi, vú.
  • Nếu ung thư được tìm thấy dưới cơ hoành, ổ nguyên phát thường ở phần dưới cơ thể. VD: tụy, gan, hoặc các cơ quan khác trong ổ bụng.
  • Vài loại ung thư thường di căn đến những vùng nhất định. Nếu ung thư được tìm thấy tại hạch cổ, ổ nguyên phát thường ở đầu hay cổ.

 

Các xét nghiệm và thủ thuật có thể được sử dụng:

  • Chụp cắt lớp vi tính: Có thể dùng thuốc cản quang hoặc không.
  • Chụp cộng hưởng từ: Có thể dùng thuốc đối quang từ hoặc không.
  • Chụp PET: Dùng một lượng nhỏ glucose phóng xạ tiêm vào tĩnh mạch.
  • Mammogram: Chụp X quang vú.
  • Nội soi: Nội soi đại tràng, nội soi dạ dày…
  • Xét nghiệm Marker ung thư: Tìm các chất chỉ điểm u trong mẫu máu, nước tiểu, hoặc mô.

 

Đôi khi, không xét nghiệm nào có thể tìm thấy ổ ung thư nguyên phát. Khi đó, bác sĩ sẽ điều trị dựa trên loại ung thư có khả năng nhất.

Các yếu tố ảnh hưởng đến tiên lượng.

Tiên lượng của ung thư phụ thuộc vào:

  • Vị trí ung thư nguyên phát, vị trí lan tràn.
  • Số lượng cơ quan có ung thư.
  • Độ biệt hóa của tế bào ung thư.
  • Giới tính bệnh nhân.
  • Ung thư mới chẩn đoán hay tái phát.

 

Với phần lớn bệnh nhân CUP, các phương pháp điều trị hiện tại không chữa khỏi được bệnh.

Đọc thêm: Điều trị Ung thư không rõ nguồn gốc.

 

 

Theo: National Cancer Institute.

Tags: