Oops! It appears that you have disabled your Javascript. In order for you to see this page as it is meant to appear, we ask that you please re-enable your Javascript!
ĐANG TẢI

Gõ từ khoá để tìm kiếm

Lịch sử phát triển của điều trị ung thư (phần 4): Hóa trị liệu

Chia sẻ

Trong chiến tranh thế giới II, các nhân viên hải quân bị phơi nhiễm với hơi mù tạt khi thực hiện các hoạt động quân sự, họ bị phát hiện có những thay đổi do nhiễm độc trong các tế bào tủy xương mà sẽ phát triển thành các tế bào máu. Trong cùng thời kỳ, quân đội Mỹ đang nghiên cứu một số hóa chất liên quan đến hơi mù tạt để phát triển những loại vũ khí hiệu quả hơn và cũng để đẩy mạnh các biện pháp bảo vệ. Trong quá trình tiến hành công việc này, một hợp chất được gọi là mù tạt ni-tơ (nitrogen mustard) đã được nghiên cứu và phát hiện có tác dụng chống lại một loại ung thư hạch lympho (lymphoma). Chất này đại diện cho tập hợp nhiều chất có cấu trúc gần giống nhau nhưng tác dụng mạnh hơn (được gọi là tác nhân alkyl hóa – Alkylating agents) trong việc tiêu diệt nhanh chóng sự phát triển của các tế bào ung thư nhờ làm tổn thương ADN của nó

.chemotherapy2
Không lâu sau khi phát hiện ra chất mù tạt ni-tơ, Sidney Farber ở Boston đã chứng minh rằng aminopterin, một hợp chất có liên quan tới acid folic, làm thuyên giảm bệnh bạch cầu cấp. Aminopterin cản trở các phản ứng hóa học then chốt cần cho sự sao chép DNA. Thuốc này là tiền thân của Methotrexate, một loại thuốc điều trị ung thư thường sử dụng ngày nay. Kể từ đó, những nhà nghiên cứu khác đã phát hiện những thuốc cản trở các chức năng khác trong sự phát triển tế bào và sự tái bản ADN. Kỷ nguyên của hóa trị liệu đã bắt đầu.
Ung thư di căn lần đầu tiên được chữa khỏi năm 1956 khi methotrexate được dùng để điều trị một khối u hiếm là ung thư nguyên bào nuôi (choriocarcinoma). Theo thời gian, các loại hóa chất điều trị ung thư đã điều trị thành công nhiều bệnh nhân ung thư. Sự lui bệnh lâu dài và thậm chí khỏi hẳn của nhiều bệnh nhân mắc bệnh Hodgkin và bạch cầu cấp thể lympho ở trẻ em được điều trị bằng hóa chất lần đầu tiên được báo cáo trong những năm 1960. Trong thập niên kế tiếp ung thư tinh hoàn đã được điều trị khỏi. Những ung thư khác có thể được kiếm soát bằng hóa chất trong một thời gian dài, dù cho không khỏi hẳn.

Methotrexate

Methotrexate

Ngày nay, có nhiều cách để cải thiện hiệu quả và giảm thiểu tác dụng phụ của hóa chất. Chúng bao gồm:
• Thuốc mới, kết hợp thuốc và kỹ thuật đưa thuốc vào mới.
• Những phương pháp mới mà thuốc có mục tiêu đặc hiệu hơn lên các tế bào ung thư (như liệu pháp túi mỡ – liposomal therapy và liệu pháp kháng thể đơn dòng – monoclonal antibody therapy) nhằm làm giảm các tác dụng phụ.
• Những thuốc làm giảm tác dụng phụ, giống như thuốc làm giảm kích thích đại tràng, hóa chất bảo vệ (Dexrazoxane và amifostine), và thuốc chống nôn (giảm buồn nôn và nôn).
• Chất khắc phục sự kháng đa thuốc (khi ung thư không đáp ứng với những loại thuốc điều trị thông thường).
Đầu thế kỷ 20, chỉ những ung thư nhỏ và khu trú đủ điều kiện cắt bỏ hoàn toàn mới có thể khỏi hẳn. Sau này, xạ trị được sử dụng sau phẫu thuật để kiểm soát sự phát triển của các khối u nhỏ không được cắt bỏ trong quá trình phẫu thuật. Cuối cùng, hóa trị được bổ sung để tiêu diệt sự phát triển của các khối u nhỏ đã lan tỏa ngoài tầm kiểm soát của các phẫu thuật viên và bác sĩ xạ trị. Hóa trị dùng sau phẫu thuật để tiêu diệt bất kỳ tế bào ung thư nào còn sót lại trong cơ thể gọi là hóa trị bổ trợ (adjuvant therapy). Hóa trị bổ trợ lần đầu được thử nghiệm ở ung thư vú và cho thấy hiệu quả. Sau đó được dùng trong ung thư đại tràng, tinh hoàn,…
Một phát hiện quan trọng là ưu điểm của việc sử dụng đa hóa trị liệu (được biết đến như là sự kết hợp của các loại hóa chất) so với đơn hóa trị liệu. Một số type tiến triển nhanh của bệnh bạch cầu cấp và u lympho (những loại u lần lượt của tế bào tủy xương và hạch lympho) đáp ứng tốt với đa hóa trị liệu, và các thử nghiệm lâm sàng đã đưa tới sự tiến bộ trong việc kết hợp các loại hóa chất. Hiện nay, nhiều loại ung thư này có thể được điều trị khỏi nhờ đa hóa trị liệu phù hợp.
Hướng điều trị của bệnh nhân đã trở nên đặc hiệu hơn nhờ tiến hành các thử nghiệm lâm sàng quy mô rộng lớn trên toàn thế giới. Các thử nghiệm lâm sàng so sánh các biện pháp điều trị mới với hướng điều trị chuẩn và góp phần vào sự hiểu biết tốt hơn các lợi ích và nguy cơ của điều trị. Chúng đã kiểm tra các giả thuyết về ung thư học được từ các phòng thí nghiệm khoa học cơ bản và cũng như đánh giá tất cả các ý kiến rút ra từ các quan sát lâm sàng trên bệnh nhân ung thư. Chúng thực sự cần thiết cho các quá trình phát triển tiếp theo.

Tags:

Bạn có thể quan tâm

Để lại bình luận

Your email address will not be published. Required fields are marked *