Oops! It appears that you have disabled your Javascript. In order for you to see this page as it is meant to appear, we ask that you please re-enable your Javascript!

ASTRO 2019 | Hướng dẫn thực hành xạ trị ung thư da

Tháng 12 năm 2019, hội xạ trị ung thư Hoa Kỳ (American Society for Radiation Oncology – ASTRO) công bố phiên bản mới nhất của hướng dẫn thực hành xạ trị bệnh ung thư da thể biểu mô tế bào đáy (Basal Cell Carcinoma – BCC) và tế bào vảy (Cutaneous Squamous Cell Carcinoma – cSCC).

Theo ghi nhận của ASTRO, ung thư da hiện đang là bệnh ung thư có tỷ lệ mắc mới cao nhất tại Mỹ. Thể mô bệnh học biểu mô tế bào đáy và tế bào vảy gặp trong khoảng 95% trường hợp.

Các nội dung chính trong bản cập nhật:

– Chuẩn hóa phác đồ xạ trị trong điều trị ung thư da,

– Chiến lược điều trị tối ưu khi có tổn thương xâm nhập khoảng quanh thần kinh trên vi thể,

– Chiến lược điều trị hạch vùng,

– Vai trò của các liệu pháp toàn thân trong chỉ định tân bổ trợ, bổ trợ và phối hợp đa mô thức.

Chỉ định xạ trị triệt căn với ung thư da biểu mô tế bào đáy và tế bào vảy?

Trong chiến lược điều trị triệt căn, các nhà nghiên cứu khuyến cáo mạnh mẽ lựa chọn xạ trị cho các trường hợp BCC hoặc cSCC không thể hoặc từ chối phẫu thuật. Vai trò của xạ trị đặc biệt có ý nghĩa khi tổn thương nằm ở các vị trí giải phẫu “nhạy cảm”, như mũi hoặc môi, quanh ổ mắt, tai, khi đó, can thiệp ngoại khoa có thể ảnh hưởng tiêu cực về mặt chức năng và thẩm mỹ sau điều trị. Tuy nhiên, chỉ định xạ trị triệt căn được khuyến cáo KHÔNG lựa chọn với các bệnh nhân ung thư da liên quan đến đột biến gen như hội chứng Gorlin và Li Fraumeni… Phơi nhiễm với tia bức xạ sẽ có nguy cơ cao làm phát sinh các tổn thương ác tính mới ở những trường hợp này.

Vai trò của xạ trị trong điều trị bổ trợ sau mổ?

Trong lựa chọn điều trị bổ trợ/sau mổ, xạ trị nên được xem xét lựa chọn cho các bệnh nhân có nguy cơ ung thư tái phát cao:

Xạ trị bổ trợ tại hạch vùng, chỉ định và phác đồ nào phù hợp?

Với BCC hoặc cSCC di căn hạch vùng, phẫu thuật nạo vét hạch, theo sau bởi xạ trị bổ trợ là chiến lược được khuyến cáo thực hiện với liều 6000-6600 cGy, phân liều quy ước 180-200 cGy. Chỉ định xạ trị bổ trợ có thể được xem xét bỏ qua trong tình huống ung thư da vùng đầu cổ, “chỉ” di căn 1 hạch vùng, đường kính < 3cm và hạch đó còn nguyên vẹn, chưa phá vỡ vỏ. Các tác giả cũng đề nghị thực hiện xạ trị triệt căn cho các trường hợp cSCC tiến triển tại vùng và không thể phẫu thuật.

Với các bệnh nhân cSCC có nguy cơ di căn hạch vùng cao, các thăm dò chẩn đoán hình ảnh và sinh thiết hạch cửa cần được xem xét thực hiện, cung cấp những thông tin giá trị để xác định sự cần thiết và các thể tích bia của xạ trị. Hướng dẫn thực hành của ASTRO 2019 cũng nhấn mạnh theo dõi sát sao tình trạng hạch vùng cần được đặc biệt chú ý trong các tình huống mà giá trị của thủ thuật sinh thiết hạch cửa không được đảm bảo: 1) Bệnh nhân đã được phẫu thuật rộng rãi có/không kết hợp tạo hình tại vị trí u nguyên phát hoặc 2) Khối u vùng đầu và cổ.

Nguy cơ di căn hạch vùng có tương quan mạnh với độ sâu xâm lấn của khối u nguyên phát (Ngưỡng trên 6mm), xạ trị bổ trợ tại một số nhóm hạch vùng chọn lọc được khuyến cáo chỉ nên cân nhắc cho các trường hợp mà xạ trị cũng được lựa chọn cho vị trí u nguyên phát nằm lân cận khu vực hạch vùng dự kiến điều trị. Liều cho xạ trị trong trường hợp này từ 5000-5040 cGy, phân liều quy ước 180-200 cGy.

Lựa chọn phác đồ – kỹ thuật xạ trị nào tối ưu cho xạ trị tại vị trí nguyên phát của BCC và cSCC?

Các kỹ thuật xạ trị hiện nay được áp dụng với ung thư biểu mô tế bào đáy và tế bào vảy của da:

– Các tia X năng lượng thấp (Electronically generated Low-energy Source – ELS)

– Xạ trị áp sát suất liều cao (HDR) và thấp (LDR)

– Xạ trị với chùm Electron

– Xạ trị với chùm Photon

Tỷ lệ kiểm soát tại chỗ với các kỹ thuật xạ trị khác nhau:

– Tỷ lệ kiểm soát tại chỗ sau 5 năm với ELS, xạ trị áp sát và electron: 75% – 100%

– Tỷ lệ kiểm soát tại chỗ sau 5 năm với xạ trị photon: 54% – 80%

Lựa chọn kỹ thuật xạ trị theo đặc điểm khối u

Phối hợp các liệu pháp toàn thân (Hóa trị, điều trị sinh học, điều trị miễn dịch) cùng xạ trị trong ung thư biểu mô tế bào đáy và vảy của da ?

Với các bệnh nhân cSCC tiến triển tại chỗ đã được phẫu thuật, kết hợp Carboplatin đồng thời, cho đến nay, KHÔNG được khuyến cáo lựa chọn với mức độ MẠNH. Ngược lại, nếu không thể phẫu thuật cắt bỏ, phối hợp liệu pháp toàn thân đồng thời cùng xạ trị có thể được cân nhắc cho từng trường hợp.

Bản toàn văn Hướng dẫn thực hành xạ trị ung thư ASTRO 2019, quý bạn đọc có thể tham khảo tại Tủ sách Ung thư hoc.

Về Trần Trung Bách

Bác sĩ nội trú. Bộ môn Ung thư - Đại học Y Hà Nội - Khoa xạ trị tổng hợp, Bệnh viện K Tân Triều

Xem thêm

U lympho nguyên phát tại hệ thần kinh trung ương | Phần 2

Bên cạnh việc chẩn đoán cần nhanh chóng và hiệu quả, lựa chọn điều trị tối ưu là yếu tố quan trọng quyết định kết quả điều trị cho người bệnh ULPNPTKTW.